Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Về Thái Nguyên ngắm thác Nậm Rứt du lich viet nam


  


Thác Nậm Rứt với tên gọi quen thuộc của dân tộc Tày " Thác Mưa Rơi" Một thắng cảnh ẩn hiện độc đáo. Sở dĩ có tên gọi này vì vào những ngày tạnh ráo chỉ có một dòng thác nhỏ đổ từ vách đá cao xuống sông Thần Sa.

Nếu có dịp đến đây, cách thác 80m du khách đã được nghe tiếng nước réo rắc, âm hưởng vang vọng của vách đá, như một bản nhạc rừng, cùng với bầu không khí trong sạch, mát rượi càng làm cho cảnh vật nơi đây kỳ ảo và hoang vu tựa như Sa Pa hay Đà Lạt vậy. Khi du khách được nhưng hạt nước bay vào mạt ta có cảm giác như sương khói tơ tưởng.

Vào mùa hè thác Rậm Rứt được hiện ra như một nàng "Công chúa rừng xanh" hiện ra đôi ba ngày, rồi lại ẩn mình trong vách núi. Thác có nét đặc thù kì ảo bởi sự đan xen của nhiều dòn thác lớn và vô thiên lủng dòng thác nhỏ phun từ kẻ đá như hương sen phun nước xuống hoa lá đầy vẻ quyến rủ yên bình, cùng với bầu không khí trong lành mát mẻ, càng tạo nên một vẻ đẹp hoang vu của nàng sơn nữ với bản nhạc rừng chỉ có ở thác ...Mưa rơi.

Dưới ánh sáng thái dương, cả dòng thác được khúc xạ thành thiếu gì những cầu vồng đủ màu sắc chiếu rọi xuống dòng sông Thần Sa trong xanh. Tiếng nước réo rắt giao hòa với âm hưởng vang vọng của vách đá tạo thành một bản nhạc rừng khá ưa. Đoạn sông Thần Sa ở ngay đầu thác có bãi cát mịn xen bãi đá lô xô và bãi sỏi thoải dài tiện lợi cho việc tắm nắng, bơi lội. Dọc hai bên bờ sông nơi thác đổ có các tảng đá cao thấp nhấp nhô như bàn ghế có thể ngồi ngắm cảnh hoặc câu cá. Cách thác Nậm Rứt chừng 700m là bản Nậm Rứt của người Mông. Đến đây, du khách có thể được chủ nhà mời uống rượu ngô, thưởng thức nhiều món ăn đậm chất dân tộc như mèn mén, ngô luộc, rau cải mèo, gà rừng nướng hoặc thịt lợn cắp nách…

Cách thác Nậm Rứt 5km về phía Đông Bắc là khu di chỉ khảo cổ Thần Sa cách ngày nay từ 40.000 - 23.000 năm đã được xếp hạng bảo tồn quốc gia từ năm 1982. Từ cuối thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học đã tổ chức nhiều cuộc khai quật quy mô lớn và tìm thấy hàng chục ngàn công cụ được ghè đẽo như rìu tay, công cụ chặt hình núm cuội, dụng cụ chặt rìa, phương tiện chặt 2 lưỡi, dụng cụ hình sừng bò, 3 bộ xương người cổ… Đặc biệt, tại mái Đá Ngườm cao 30m, rộng 60m nằm trên sườn dãy núi Ngườm thuộc bản Trung Sơn, các nhà khảo cổ đã tìm thấy 4 địa tầng văn hóa khảo cổ: Bắc Sơn, Hòa Bình, Sơn Vi và Ngườm. Những phát hiện khảo cổ học ở Thần Sa đã cho những luận cứ khoa học vô cùng thuyết phục để khẳng định Thần Sa là nơi cư trú của nhiều đời người cổ. Do đó, Thần Sa có một vị trí đặc biệt trong việc tìm hiểu về lịch sử tiến hóa của con người nguyên thủy trên đất nước ta nói riêng và cả vùng Đông Nam Á nói chung. Ngoài ra, đến với Thần Sa, du khách còn có dịp chiêm ngưỡng những nét đẹp sinh hoạt văn hóa và kiến trúc nhà sàn dân tộc Tày, Nùng./.

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Thăm ngôi chùa được dát 60 tấn vàng của Myanmar du lich viet nam

 Phượt thủ   Nguyễn Bình
 
 (thực hành) 


Đường lên cao nguyên đá du lich viet nam

Đường lên Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn bắt đầu khó dần, nhỏ hẹp và hun hút sâu. Len lách trong đá núi là màu xanh của ngô, thứ đặc sản bình dân nhất của Hà Giang. Ngô được bà con trồng bạt ngàn trên các triền núi. Ngô mang lại sự no đủ, gieo vào lòng người thương yêu lao động, tạo hương men nồng say làm ngất ngây lòng người .

Đường lên Lũng Cú

Xe bắt đầu chuyển từ chạy sang bò ậm ạch. Nhân kiệt xế là người Hà Giang rất vui tính. Các bác thấy quê cháu có đẹp không? Mọi người đồng thanh: Rất đẹp! Vâng. Đẹp nhưng buồn và nghèo. Ngó lên là đá, nhìn xuống là ngô, nhưng cái tình của người Hà Giang thì lớn lắm.

Xe vượt một khúc cua tay áo, trước mắt chúng tôi là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ. Một bên vách núi thẳng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm, ngập mây trắng bay. Tưởng như thò tay ra là có thể chạm ngay vào bầu trời. Một thung lũng đẹp lạ hiện ra. Vài ba ngôi nhà sàn ẩn mình trong những vòm cây cổ thụ, đàn bà Mông, Tày, Lô Lô… đang lụi hụi nhặt rau, cuốc đất và làm những công việc rất thủ công.

Đi thêm một quãng xa, một thị tứ hiện ra sầm uất, người dân líu tíu mua bán trong phiên chợ hôm. Màu áo váy sặc sỡ của bà con dân tộc quyện vào màu đen của đá, màu xanh của rừng tạo ra một bức tranh sống động, tươi mới của người dân vùng cao. Việc mua bán ở đây rất dễ dàng, ít có người cò kè ngả giá, bởi hàng hóa phần đông là những sản vật nông nghiệp, rất rẻ. Khoái nhất là đám dân phượt, ăn uống thỏa thích, ngơi nghỉ vô tư lự chỉ mất có vài chục nghìn đồng.

Cột Cờ Quốc gia Lũng Cú

Lạ mắt và hiếu kỳ với những váy áo đủ sắc màu, xe chúng tôi dừng lại. Những chiếc gùi trên lưng của các cô gái Mông chất đầy rau, củ, quả. Trên tay họ là những cuộn len xanh đỏ, chú ý thêm một chút thấy đôi kim đan dắt ngay bên hông. Trong khi chờ người đến mua hàng, họ vừa tươi cười nói chuyện, vừa đan len. Chẳng hề chú ý vào những mối đan nhưng đôi bàn tay họ vẫn cứ thoăn thoắt, thuần thục đến diệu kỳ. Thấy khách lạ, những cô gái Mông bụm miệng cười. Họ không nói sõi tiếng kinh, nhưng hành động cử chỉ cho đến nụ cười ánh mắt rất thân thiện. Chẳng mua được gì nhưng sau chuyến dừng chân ấy, lòng tôi bâng khuâng khó tả. Vùng cao thật hấp dẫn và khôn cùng ma mị.

Cao nguyên đá Đồng Văn hiện ra trong mông mênh mây trời. Nhìn lại phía sau, đoàn xe như những con sâu đang bò trên dải lụa lắt lẻo trên vách đá. Đi trên con đường này, mới thấy được kỳ tích từ bàn tay, khối óc của đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang. Con đường hạnh phúc bắc qua những đỉnh múi, nối gần miền xuôi với miền ngược, xóa đi cái đói, cái nghèo và làm cho đồng bào xích lại gần nhau.

Nếm rượu ngô trong phiên chợ Mèo Vạc

Đi qua chập chùng núi, bỗng xuất hiện một thảo nguyên xanh đẹp đến nao lòng. Những đàn bò thung dung gặm cỏ, sắc đỏ, sắc hồng của váy áo hòa vào màu xanh của bắp, của lúa, của đá làm ngẩn ngơ lòng người.

Qua cổng trời Quản Bạ, đoàn chúng tôi đấu men theo con đường ven suối chay lên Yên Minh. Mùa này, suối nhỏ dịu dàng như con gái nhưng ẩn chứa trong lòng nó sự hung tợn, sẵn sàng phá phách bất cứ lúc nào.

Thị trấn nhỏ Yên Minh nằm trong lòng núi, được ấp ủ bởi những thửa ruộng bậc thang, giống như những cung đàn đang tấu lên lời mời gọi: Ai về thăm quê hương tôi, nơi biên giới là đây, có rừng cây tự nhiên xanh biếc một màu. Đây Hà Giang, đây Hà Giang, đây Hà Giang quê chúng tôi .

Bữa cơm trước nhất trên vùng biên giới thật khó tả, những món ăn ngon, lạ của đồng bào dân tộc được bày ra hấp dẫn khi cái đói cồn cào đang gào thét trong dạ dày. Ai cũng tấm tắc khen, món giá đỗ tương hầm chân giò bùi ngậy, món măng đắng nhồi thịt ngọt mát… Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy cái thật thà và lòng hiếu khách của đồng bào.

Nếu bảo ở đâu trên tổ quốc ta nhiều đá thì chỉ có ở Đồng Văn. Đá xếp thành núi, núi gối lên núi tầng từng lớp lớp kỳ vĩ. Đá ở đây mang màu thời kì, bạc phếch, gợi chút gì đó tâm linh. Đá xé toạc không gian và thời kì lao vút lên bầu trời hiên ngang, tự hào như chính người Mông, người Tày… Đá tham nuốt hết đất vào lòng, đến nỗi người dân Hà Giang thèm đất như thèm muối, thèm gạo. Đá nuốt đất thì bàn tay đồng bào biến đá thành đất, cũng do vậy mà đất có khắp mọi nơi trong đá. Chỗ nào ngô lúa mọc lên, chỗ đó có đất. Đất trở nên máu chảy trong lòng đá, hóa thành những chàng đồ sộ che trở, bảo vệ cho đồng bào các dân tộc Hà Giang… Mảnh đất ấy, cao nguyên ấy:  Thấy nhau trong tầm mắt/ Gặp nhau mất nửa ngày nhưng sao “tình” đến thế: Khi vùi ta uống rượu mừng/ Khi buồn ta uống để cùng sẻ chia .

Bài, ảnh:  TRỊNH VĂN DŨNG 


Thú vị du lịch miền Tây du lich viet nam



Đến với miền Tây, các bạn có thể ngắm các vẻ hẹp của thắng cảnh Hà Tiên, chèo xuồng đi dọc các con kênh, đi trên các con đường làng ngắm các cảnh đồng để tận hưởng cảm giác thăng bình, yên ắng của cuộc sống.

Hãy tìm hiểu các địa điểm du lịch nức danh ở miền tây, để tìm được 1 tour du lịch miền Tây và thưởng thức các cảnh đẹp, cây trái sum sê, đơn ca tài tử, đi thuyền trên sông nước....

Các địa điểm du lịch rất nổi danh của miền Tây như là chợ nổi Cần Thơ, thắng cảnh Hà Tiên, đảo Phú Quốc, du lịch bảy núi, vườn nhà nước U minh..../.

Thức giấc Sapa bằng cáp treo lên đỉnh Fansipan du lich viet nam

  

 Địa danh nức tiếng, ít dấu chân
 

Sa Pa - địa danh 110 năm tuổi, được ví von là “nơi gặp gỡ của đất trời”, luôn làm nao lòng du khách bởi bản sắc văn hóa đa dạng của 25 dân tộc, và vẻ sơ khai ẩn mình trong mây mù che.
Sa Pa còn “hút hồn” du khách bởi đỉnh Fansipan cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn, được biết đến như “Nóc nhà Đông Dương”. Đây là nơi bất kỳ ai cũng mong có một lần được lên tận đỉnh, để khám phá vẻ đẹp hùng vĩ nơi phên dậu nước nhà và chiêm bái chốn khôn thiêng nơi hồn thiêng nước non tụ họp.
Mê đắm là vậy, sơ khai vậy nhưng mỗi năm Lào Cai chỉ đón từ hơn 960.000 lượt khách, trong đó có tới 1/3 khách quốc tế.
Du khách đến với Sa Pa còn ngần ngại bởi điều kiện tạm trú, đi lại chưa thuận tiện. Chưa kể, không nhiều dịch vụ du lịch hấp dẫn đủ sức níu chân.
Riêng Fansipan- điểm đến hấp dẫn nhất, vẫn vấn rất ít du khách dám dấn thân bởi hành trình khám phá mạo hiểm. Để chinh phục “nóc nhà Đông Dương”, du khách phải vượt những vách núi cao hiểm trở, phải qua đêm nơi lưng chừng núi, trong giá lạnh tê người, phải chặt cây rừng để đốt sưởi, thậm chí phải đối mặt với rắn rết, côn trùng lạ, để hôm sau lại tiếp kiến hành trình khắc nghiệt đến kiệt lực.



So với Bà Nà Hills, đỉnh Fansipan với độ cao 3.143 mét có địa hình hiểm trở hơn nhiều lần bởi những vách đá chông chênh đựng đứng, vực sâu hàng ngàn mét, khí hậu cực kỳ hà khắc và sức gió mạnh quanh năm.
Khi hệ thống cáp treo 3 dây được xây dựng xong, hành trình 2 sớm hôm nặng nhọc chinh phục Fansipan của du khách sẽ chỉ còn 15 phút. Cáp treo 3 dây lên tận đỉnh Fansipan sẽ đáp ứng được mong mỏi của mỗi người Việt Nam và du khách quốc tế để một lần được đứng trên đỉnh núi cao nhất Đông Dương.


 Nghỉ dưỡng 5 sao trên “nóc nhà Đông Dương”
 

Song song với hệ thống cáp treo, Sapa còn hình thành khu nghỉ dưỡng cao cấp gồm hệ thống khách sạn 4-5 sao, khu vui chơi giải trí, ẩm thực, một down town mới mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc sinh sống tại Sa Pa và sân goft 18 lỗ.
Đặc biệt, một khu du lịch linh tính sẽ được xây dựng trên đỉnh Fansipan lộng gió. Trên cao, nơi đất trời gặp gỡ, mỗi du khách Việt thỏa ước nguyện cầu an lành cho giang sơn, gia đình và người thân.



Dự định, nếu lượng khách đến với Sa Pa tăng 30 - 40 % năm (con số được ước tính từ thành công của hệ thống cáp treo Bà Nà Hills) thì đến năm 2017, Lào Cai sẽ đón khoảng 2 triệu lượt khách/năm. Đếnnăm 2020, lượng khách du lịch đến với Sapa có thể lên đến 3 triệu lượt/năm.

Cáp treo 3 dây Fansipan là hệ thống cáp treo vận hành liên tiếp với độ dài toàn tuyến khoảng 7km. Độ chênh tuyệt đối của ga đi và ga đến là 1.404m, công suất vận chuyển tối đa 2.000 lượt khách/giờ với những cabin như một chiếc ô tô buýt nhỏ, có sức chứa tới 35 khách.
Nhà sản xuất cáp treo nức tiếng thế giới Doppelmayr của Áo đã được lựa chọn cho công trình Cáp Fansipan 3 dây độc đáo với yêu cầu kỹ thuật và đảm bảo an toàn cao nhất.
Theo kế hoạch, tuyến Cáp treo 3 dây lên đỉnh Fansipan sẽ khai trương đúng dịp kỷ niệm 70 năm ngày Quốc Khánh - ngày 02/09/2015.

Tạo sức hút mới cho bảo tàng du lich viet nam


Tại phòng trưng bày mới ở bảo tàng Tôn Đức Thắng,

Khách tham quan có thể nghe người trong cuộc kể chuyện

Ảnh:Thiên Bình


Thay đổi trong nhận thức về hoạt động bảo tàng


Sự Thay đổi này được thực hành với sự tham vấn của bà Wendy Erd, người có kinh nghiệm làm công tác bảo tồn gần 40 năm và ông Peter Kaufmann - những chuyên gia về hoạt động bảo tồn theo phương thức "Câu chuyện và tiếng nói của cộng đồng” (Community Voice and Story). Qua 8 năm công tác tại Việt Nam với phần nhiều công việc là ở bảo tồn Dân tộc học, bà Wendy Erd nhận xét: Hoạt động bảo tồn tại Việt Nam giờ đang rất thèm khát, mong muốn có những ý tưởng mới cho hoạt động bảo tồn và "Các bạn có văn hóa phong phú, đa dạng và lịch sử cũng thế, tôi nghĩ những người làm công tác bảo tồn có những cơ hội rất lớn từ những vật liệu phong phú này để lôi cuốn khách tham quan đến với bảo tồn. Điều hay nhất của bảo tàng là làm mọi người suy nghĩ, tò mò và đưa mọi người gần gụi với nhau dù khác nhau về quốc tịch, quan điểm sống... Cho nên quan yếu là cần tìm ra những cách thức mới trong trưng bày để bảo tồn làm trọng tâm kết nối tốt hơn”.


Theo ông Peter Kaufmann, bảo tồn có hay như thế nào, hiện vật có giá trị ra sao mà không có khách tham quan thì không còn ý nghĩa gì cả. Hồ hết các bảo tồn Việt Nam làm theo cách truyền thống, theo lối mòn, cách trưng bày cũng theo lối mòn. Cái mà cộng đồng quan hoài là sự kết nối không chỉ giữa người với người mà còn giữa người với hiện vật. Bảo tồn như chất xúc tác tạo sự kết nối, tạo sự cảm thông, hiểu biết giữa người với người. Như triển lãm về cộng đồng những người làm nghề ve chai là một tỉ dụ. Qua triển lãm mọi người có thể hiểu được về công việc, cuộc sống của những con người đó. Nên quan trọng là việc làm thế nào để những người trong cộng đồng đem đến bảo tồn những hiện vật thu hút khách đến tham quan. Nói cách khác, bảo tồn cần trưng bày những cái gì cộng đồng quan hoài chứ không chỉ là trưng bày những gì bảo tàng có.


"Câu chuyện” sức hút từ những điều bình dị, vụn vặt


Tại bảo tàng Tôn Đức Thắng, phòng trưng bày theo phương thức mới có chủ đề "Câu chuyện giáo dục gia đình qua những lá thư” được triển khai thí điểm từ tháng 8-2013 đến tháng 8-2014. Ông Trần Anh Tuấn - Trưởng Phòng Trưng bày và Tuyên truyền của bảo tàng Tôn Đức Thắng giới thiệu: Với 3 từ khóa là giáo dục con cháu về tính tự lập, về lòng xót thương và về bổn phận công dân, từ những lá thư của Bác Tôn đã gửi đến con cháu mà bảo tồn khai triển thành phòng trưng bày với 3 chủ đề ứng. Đến tham quan tại phòng trưng bày, ngoài việc xem nét bút trên những lá thư viết tay của Bác Tôn, khách tham quan còn thể xem và nghe những câu chuyện từ những người trong cuộc kể lại qua màn ảnh máy tính. Đặc biệt góc tương tác "Câu chuyện của bạn” với các tiêu đề "Hãy để câu chuyện của bạn trở nên một phần câu chuyện của chúng tôi” và "cảm tưởng của bạn” đã tạo được sự kết nối, chia sẻ giữa khách tham quan với bảo tồn và với cộng đồng.


Sau gần 2 tháng thực hiện, sự dị biệt và đổi mới của phòng trưng bày "Câu chuyện” đã nhận được những nhận xét hăng hái của khách tham quan cùng những san sớt về xúc cảm của họ đã tạo nên sự hào hứng cho những người làm thuê tác bảo tàng. Ông Trần Anh Tuấn cho biết: Từ kết quả này, sắp tới bảo tàng sẽ đổi mới ắt hệ thống trưng bày theo hướng mới. Với cách nom mới, chính những người làm công tác bảo tồn cũng sẽ thấy tư duy của mình năng động hơn, cởi mở hơn.


BẢO HẠNH

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Mai một làng bếp lò Phú Định du lich viet nam

Trằn trọc với nghề

Theo đường Nguyễn Văn Luông, chúng tôi đến làng nghề nằm giữa cầu Rạch Cây và cầu Phú Định tìm cơ sở sinh sản được xem là hậu duệ rốt cục của làng nghề lò đất Sài Gòn xưa. Sau một hồi nói quanh, chúng tôi cũng tìm được cơ sở của ông Trần Văn Tiếp, thường gọi là Năm Tiếp. Cơ sở này được đánh giá hoạt động hiệu quả, có diện tích khoảng 200m2 với hơn 30 thợ làm việc thẳng băng trong đó có 20 thợ chính. Dưới cái nắng gắt của buổi trưa, từng giọt mồ hôi nối tiếp nhau chảy ướt đầm trên lưng nhưng các thợ chính vẫn làm việc hì hục, đều đặn. Các anh chị thợ phụ làm việc thật lực không kém bên các lò lửa đỏ rực.

Ông Năm Tiếp cho biết đã theo nghề hơn 30 năm nay: “Trước đây, khu này toàn là đồng quê. Mấy người lớn trong làng thấy vậy mới kiếm nghề này về làm. Từ đó, cả dân làng làm theo. Trước đây, Phú Định có trên 30 hộ theo nghề truyền thống của gia đình. Hơn 10 năm trước vẫn còn gần 1/3 số đó theo nghề. Vậy mà giờ chỉ còn mỗi hộ của tôi là còn giữ được nghề”.

Hiện tại, sản phẩm từ cơ sở Năm Tiếp đã phân phối đi rất nhiều tỉnh miền Đông, miền Tây, Tây Nguyên, Nam Trung bộ (nhiều nhất các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa…). Ngoài việc duy trì các mẫu sản phẩm truyền thống vì rất tiện dụng, ăn nhập với nhiều gia đình, xưởng của ông còn chú trọng đến việc cải tiến kiểu dáng, nâng tầm chất lượng của bếp.

Theo ông Năm, nguồn ra cho bếp lò hiện vẫn chưa đến nỗi cập kênh lắm vì khắp vùng chỉ còn duy nhất cơ sở ông làm. “Dù cực nhưng hàng vẫn bán được, đó là niềm vui lớn nhất của người làm nghề. Cơ sở hiện cũng ổn định, vẫn còn nhiều thợ lành nghề lâu năm theo làm, không bỏ được. Nghề này như một cái nghiệp đeo bám chúng tôi vậy”, ông Năm chia sẻ.

Đang vui, giọng ông bỗng chùng xuống: “Không biết tôi còn trụ được bao lâu chứ giờ, nhu cầu dùng bếp gas, bếp điện ngày một nhiều hơn. Xưởng cũng thiếu nhân công. Nguồn nguyên vật liệu thì đắt giá, khó tìm. Đặc biệt, chuyện thi công đập ngăn triều lại tác động lớn đến việc chuyển vận nguyên nguyên liệu vì hầu như toàn phải chuyển bằng đường sông. Tôi cảm thấy trơ trẽn, không biết kêu ai giúp sức cùng giữ lại xưởng rốt cuộc này, hổm rày nghĩ suy nhiều lắm. Tôi chỉ mong có điều kiện để phát triển nghề, mà nghĩ khó quá. Giờ thì vẫn làm được, nhưng còn những năm sau, năm sau nữa không biết làng nghề rồi ra sao…”.

Tạ Khai Hưng (20 tuổi) là thợ trẻ nhất trong xưởng Năm Tiếp.

Nghề lắm kỳ công

Lò bếp cơ sở Năm Tiếp được bán với giá thành khá rẻ, lò nhỏ từ 25.000 - 30.000 đồng/cái, lò lớn từ 50.000 - 60.000 đồng/cái. Nhưng để tạo ra được nó, người làm nghề phải qua rất nhiều bước công phu.

Ngoài đất sét, vật liệu làm bếp lò còn có than từ trấu hun thành. Việc hun trấu phải phụ thuộc vào vị trí đổ trấu và thời điểm hun trấu, sao cho không được cháy thành tro màu trắng vì chẳng thể sử dụng được, còn trấu cháy chưa thành than, nếu trộn vào đất sét sẽ làm nứt bếp lò khi nung.

Đất sét sau khi ngâm trong nước làm tăng độ mịn dẻo, lắng bỏ tạp chất sẽ được trộn than trấu vào với tỉ lệ thường là 2/3 đất và 1/3 than trấu. Việc chọn mẫu đất và trộn đất không bắt theo tỉ lệ đã định, mà có thể tăng giảm chút đỉnh tùy vào kinh nghiệm nghề nghiệp của mỗi người thợ. Nhưng trộn than trấu vào đất sét không phải để giảm thiểu chi phí mà là nguyên tắc thắt để làm tăng độ chịu nhiệt của bếp lò khi nung, nhất là trong quá trình sử dụng về sau.

Để làm ra một chiếc bếp lò hoàn chỉnh, người thợ phải qua nhiều công đoạn tạo dáng phức tạp: quay, nắn gù (nắn đầu lò), cắt gọt và tạo miếng chắn lò. Công đoạn quay lò tưởng chừng rất đơn giản nhưng lại là khâu khó nhất trong quy trình tạo dáng bếp lò. Ông Lâm Thành Lợi, người có 30 năm kinh nghiệm trong nghề cho biết: “Ai qua được bước này mới được gọi là thợ. Nhiều người học rất lâu, nhưng chẳng thể qua bước này, họ chỉ có thể nắn gù hoặc ngồi cắt gọt lò”. Theo ông Lợi, cái khó là làm sao để người thợ đi thụt lùi quanh khuôn, dùng đôi tay khéo léo# của mình ấn vuốt đất liên tục nhằm ép đất chặt vào khuôn và có độ dày đều. Khuôn được đặt trên một cái giá cao, vừa tầm tay của thợ. Trước khi cho đất vào khuôn ép, thợ phải rải đều lớp cát mịn để chống dính. Sau khi thấy đủ độ dày thành lò, thợ bê khuôn ra chỗ phơi, lật úp đáy lò lên trên và nhấc khuôn ra để phơi sản phẩm. Khâu quay lò được làm ngoài sân, cạnh nơi để nguyên liệu và xung quanh là chỗ trống để phơi sản phẩm mà không phải di chuyển nhiều nên buộc thợ phải phơi lưng trần làm việc ngoài nắng. Sản phẩm sẽ được phơi khoảng hai đến ba ngày tùy vào thời tiết. Trong lúc phơi, phải xem chừng thời kì tưới nước giữ ẩm đầu lò để qua bước sau, có thể nắn đầu lò cho dễ.

Nắn gù là tạo ra 3 giá kê trên thành miệng bếp lò, thợ dùng tay nắm đất đắp lên 3 vị trí xứng trên thành bếp và ấn vuốt cho dính chắc và bằng phẳng, sau đó tiếp chuyện mang đi phơi lần nữa cho khô ráo. Tiếp đến là công đoạn cắt gọt những lớp đất thừa trên sản phẩm, đồng thời cắt tạo miệng lò, cửa lò. Khâu này được người thợ làm tỉ mỉ và cẩn thận nhất, nhát cắt phải nhanh gọn và đúng vị trí định trước.

Cùng với khâu nhào trộn đất, khâu làm miếng chắn lò giờ đây đã được làm bằng máy móc, nhanh và thuận lợi. Ngày trước không có máy móc tương trợ, thợ phải nặn đất thành những miếng tròn dẹt, dày khoảng 1-1,5cm, đường kính ăn nhập  sapa  với khoảng cách xứng với chiều cao thân lò. Sau khi phơi ráo, dùng một ống trúc đục những lỗ nhỏ trên miếng đất theo vòng tròn vào giữa tâm. Miếng chắn lò dùng để gác than hoặc củi khi đun bếp, tro sẽ theo các lỗ nhỏ rơi xuống đáy lò và được cào ra ngoài qua cửa lò.

Níu nghề

“Thanh niên trẻ trong làng hiện thời thích đi làm văn phòng, làm công nhân… cho nhẹ nhõm, ổn định và sạch sẽ, ít ai còn chịu làm cái công việc nắng nôi, chân lấm tay bùn này nữa rồi”, ông Năm thở dài nói về chuyện thiếu nhân lực. Thế nhưng, ở xưởng của ông vẫn còn có những thanh niên trẻ “nặng lòng” với nghề của làng, không chỉ là kiếm sống mà còn để giữ lại một “làng bếp lò” của Sài Gòn xưa lâu nay nay nhiều người chưa biết đến.

Hơn 5 năm làm ở xưởng, anh Triệu Giang (28 tuổi, quận 8) vẫn được xem là “người mới” trong nghề nặn. Tuy thế, anh khá gắn bó với công việc này: “Nhờ đi làm ông lò, tôi đã giúp ích được nhiều cho gia đình. Dù cực với bụi bẩn hơn các nghề khác nhiều nhưng theo riết rồi quen và yêu luôn lúc nào không biết. Giờ kêu đi làm việc khác thì không chịu được, nhớ lắm”

Tạ Khai Hưng (20 tuổi) có lẽ là thợ trẻ nhất trong xưởng Năm Tiếp. Hưng đã làm nghề này hơn 7 năm. Từ khi còn là cậu bé 13 tuổi, hàng ngày thấy mấy cậu, chú trong nhà nặn ông lò, Hưng mê, luyện tập làm theo và làm luôn tới giờ. “Chắc em không bỏ nghề này được, chừng nào xưởng của cậu Năm còn làm thì em vẫn sẽ theo. Khi làm ra sản phẩm, em tìm thấy được niềm vui ở trong đó”, Hưng tâm sự.

Chúng tôi chạy xe trở lại trung tâm TP, chợt nhớ lại câu nói của ông Năm Tiếp mà động lòng: “Biết đâu đó, khi các cháu viết bài này thì cũng là tư liệu cuối cùng về làng nghề, những đời sau có thể không còn thời cơ nhìn thấy một làng nghề truyền thống đã từng rất phát triển ngay bến Phú Định…”.

HỒNG LỢI - VÕ THẮM